Giải đáp thắc mắc về các thể loại thơ trong văn học Việt Nam

các thể loại thơ

Thơ ca chính là dòng chảy tinh tế của ngôn từ và cảm xúc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho bao thế hệ người Việt. Bài viết này, Openworld.vn sẽ cùng bạn khám phá hành trình lịch sử, những đặc trưng và các thể loại thơ trong kho tàng thơ ca Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về vẻ đẹp và sự đa dạng của nghệ thuật này. Đọc ngay bài viết sau đây nhé!

Thơ là gì?

Thơ là một hình thức nghệ thuật thuộc văn học, thơ sử dụng ngôn từ có vần điệu, nhịp điệu để diễn đạt ý tưởng và cảm xúc của người viết.

Quá trình hình thành và phát triển thơ Việt Nam

Hành trình hình thành và phát triển của thơ Việt Nam là một bức tranh lịch sử dài lâu, chứa đựng nhiều thăng trầm. Những dấu vết văn chương đầu tiên chỉ được ghi nhận lại khi đất nước bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng cụ thể để khẳng định điều đó. Chiến tranh, ách thống trị của các triều đại phương Bắc đã gây ra những tổn thất không nhỏ, kìm hãm sự phát triển và làm thất lạc nhiều tác phẩm quý giá.

Có thể nói, nền móng vững chắc của văn học Việt Nam, trong đó có thơ ca, được đặt nền móng từ thời Lý Công Uẩn. Sự ổn định về chính trị, kinh tế của triều đại này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghệ thuật thăng hoa. Thắng lợi của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, dù đánh dấu bước ngoặt lịch sử, nhưng chưa đủ sức vực dậy nền văn học đương thời, bởi xã hội vẫn còn chịu nhiều tác động của chiến tranh và chưa có sự ổn định cần thiết.

Những biến động, loạn lạc kéo dài trong các triều đại tiếp theo đã đẩy người dân vào cảnh lầm than, nghệ thuật đương nhiên không thể phát triển. Phải đến thời Lý, với sự thịnh trị về kinh tế, xã hội và chính sách văn hóa tích cực, thơ ca Việt Nam mới thực sự có đất sống, nở rộ và để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học dân tộc.

Cách xác định thể thơ Việt Nam

Xác định thể thơ đòi hỏi sự tinh tế trong việc phân tích cấu trúc, nhịp điệu và các biện pháp tu từ được sử dụng. Ví dụ, thơ lục bát dễ nhận biết bởi cấu trúc hai câu, sáu bát, với luật bằng trắc đặc trưng (6/8, ABABABCC). Thơ thất ngôn tứ tuyệt lại tuân theo khuôn khổ bốn câu, mỗi câu bảy chữ, tạo nên một hệ thống âm luật chặt chẽ. Ngược lại, thơ tự do không bị gò bó bởi bất kỳ khuôn mẫu nào về số câu, số chữ hay luật bằng trắc.

Biện pháp tu từ cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc nhận diện thể thơ. Thơ cổ điển thường sử dụng các phép đối, điệp, chơi chữ một cách tinh tế, tạo nên vẻ đẹp trang trọng, uyển chuyển. Trong khi đó, thơ tự do có thể sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ, thậm chí phá vỡ các quy tắc truyền thống để tạo nên sự mới mẻ, độc đáo.

Tóm lại, việc xác định thể thơ không chỉ dựa trên số câu, số chữ mà còn phải xét đến tổng thể cấu trúc, nhịp điệu và việc vận dụng các biện pháp nghệ thuật. Một bài thơ được xây dựng trên một hệ thống âm luật, cấu trúc câu nhất định sẽ cho phép ta dễ dàng phân loại thể loại của nó.

Cách xác định thể thơ Việt Nam
Cách xác định thể thơ Việt Nam

Các thể loại thơ trong văn học Việt Nam

Thể thơ lục bát

Thể thơ lục bát, một trong những thể thơ truyền thống lâu đời nhất, được cấu tạo bởi các cặp câu lục (6 chữ) và bát (8 chữ) xen kẽ nhau. Thông thường, bài thơ bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát, số câu không bị giới hạn. Thể thơ này thường xuất hiện trong ca dao, tục ngữ, đồng dao và lời ru, thể hiện sự gần gũi, thân thuộc với đời sống người Việt.

  • Luật bằng trắc: Câu lục tuân thủ luật B-T-B ở các tiếng thứ 2, 4, 6; câu bát theo luật B-T-B-B ở các tiếng thứ 2, 4, 6, 8. Các tiếng còn lại tương đối tự do.
  • Gieo vần: Vần được gieo một cách linh hoạt, thường là vần bằng ở cuối câu lục hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát tiếp theo, cứ thế nối tiếp đến hết bài.
  • Ví dụ:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Các thể loại thơ trong văn học Việt Nam
Các thể loại thơ trong văn học Việt Nam

Thơ song thất lục bát

Song thất lục bát là một thể thơ đặc sắc của Việt Nam, gồm hai câu thất ngôn (7 chữ) đi liền nhau, tiếp theo là một cặp lục – bát. Số câu trong bài thơ không bị giới hạn.

  • Luật bằng trắc: Câu thất ngôn thứ nhất: T-B-T ở các tiếng thứ 3, 5, 7; câu thất ngôn thứ hai: B-T-B.
  • Gieo vần: Vần cuối của câu thất ngôn trên hiệp vần với tiếng thứ 5 của câu thất ngôn dưới; vần cuối của câu thất ngôn dưới hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu lục; vần cuối của câu lục hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát.
  • Ví dụ:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh Phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)

Thơ đường luật

Du nhập từ Trung Quốc, thơ Đường luật được người Việt Nam kế thừa và phát triển, trở thành một thể thơ cổ điển đặc sắc. Thể thơ này có cấu trúc nghiêm ngặt về số câu, số chữ và luật bằng trắc, tạo nên sự cân đối, hài hòa.

  • Các thể phổ biến: Thất ngôn tứ tuyệt (4 câu, 7 chữ/câu), thất ngôn bát cú (8 câu, 7 chữ/câu), ngũ ngôn tứ tuyệt (4 câu, 5 chữ/câu). Mỗi thể có cấu trúc riêng (khai, thừa, chuyển, hợp), luật bằng trắc và gieo vần chặt chẽ.
  • Ví dụ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

(Chiều tối – Hồ Chí Minh)

  • Ví dụ:

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

Lom khom dưới núi, tiều vài chú

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại, trời non nước

Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Các kiểu thơ truyền thống Việt Nam
Các kiểu thơ truyền thống Việt Nam

Thể thơ bốn chữ

Thơ bốn chữ với mỗi câu chỉ bốn chữ ngắn gọn, là một trong những thể thơ giản dị mà vẫn giàu sức biểu cảm của văn học Việt Nam. Số câu trong một bài thơ bốn chữ không bị giới hạn, tạo nên sự linh hoạt trong việc thể hiện ý tưởng. 

  • Luật bằng trắc: Thể thơ bốn chữ có sự luân phiên giữa thanh bằng và thanh trắc ở tiếng thứ hai và tiếng thứ tư của mỗi câu thơ (B-T hoặc T-B)
  • Gieo vần: Thể thơ bốn chữ không bị ràng buộc bởi một khuôn mẫu cố định. 
  • Ví dụ:

“Em bước vào đây

Gió hôm nay lạnh

Chị đốt than lên

Để em ngồi cạnh.”

(Chị em – Lưu Trọng Lư)

“Chú bé loắt choắt,

Cái xắc xinh xinh,

Cái chân thoăn thoắt,

Cái đầu nghênh nghênh,

Ca-lô đội lệch,

Mồm huýt sáo vang,

Như con chim chích,

Nhảy trên đường vàng…”

(Lượm – Tố Hữu)

Các thể loại thơ hiện đại Việt Nam

Thể thơ năm chữ

Thể thơ năm chữ, mỗi câu năm chữ, nổi bật bởi sự giản dị mà sâu lắng. Bên cạnh đó, thơ năm chữ rất linh hoạt về số câu.

  • Giữa các câu thơ trong bài thường được ngắt nhịp 3/2, 2/3 hoặc 1/4 và 4/1.
  • Ví dụ: 

“Trên đường hành quân xa

Dừng chân bên xóm nhỏ

Tiếng gà ai nhảy ổ:

“Cục… cục tác cục ta”

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ”

(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)

Thể thơ sáu chữ

Thơ sáu chữ với tất cả các câu đều gồm sáu chữ, tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển. Gieo vần có thể ôm hoặc chéo, tùy thuộc vào sự lựa chọn của nhà thơ.

  • Ví dụ:

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay”

(Quê hương – Đỗ Trung Quân)

Thể thơ bảy chữ

Thể thơ bảy chữ với mỗi câu thơ gồm bảy chữ, là một thể thơ giàu sức biểu cảm, linh hoạt về số câu, tạo nên nhiều biến thể về nhịp điệu và cảm xúc.

  • Ví dụ: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng

(Tràng giang – Huy Cận)

Thể thơ tám chữ

Thơ tám chữ, mỗi câu gồm 8 chữ, số câu tự do, nhịp điệu uyển chuyển.

  • Luật bằng trắc: Linh hoạt, thường thấy sự đối xứng: tiếng 3 và 8 cùng thanh (bằng hoặc trắc) thì tiếng 5 và 6 trái thanh.
  • Gieo vần: Đa dạng: ôm, chéo, tiếp, tạo nên nhiều biến thể âm điệu.
  • Ví dụ: 

Mặt trời lên! Sáng rõ rồi mẹ ạ!

Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà

Giặc Pháp, Mỹ còn giết người, cướp của trên đất ta

Đuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ

(Nguyễn Khoa Điềm – Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)

Thể thơ tự do

Thơ tự do là một trong các loại thể thơ hiện đại,giải phóng nhà thơ khỏi những khuôn phép truyền thống về số câu, số chữ, luật bằng trắc và gieo vần. Sự tự do này tạo điều kiện cho việc thể hiện trọn vẹn cái tôi, sự sáng tạo và những khám phá độc đáo trong ngôn từ và cảm xúc của người nghệ sĩ.

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Các thể loại thơ thời phong kiến

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, với bốn câu bảy chữ ngắn gọn, hàm chứa một sức biểu cảm sâu lắng, thể hiện tinh hoa nghệ thuật cô đọng, hàm súc của thơ ca cổ điển.

  • Thanh điệu: Luật bằng trắc được quyết định bởi thanh điệu của tiếng thứ hai ở câu đầu (bằng thì theo luật bằng – trắc; trắc thì theo luật trắc – bằng). Các câu còn lại tuân theo luật này.
  • Gieo vần: Câu 1, 2, 4 hoặc câu 2 và 4 hiệp vần ở tiếng cuối. Có thể dùng độc vận (một vần) hoặc liên vận (nhiều vần).
  • Ví dụ: 

“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)

Các thể loại thơ thời phong kiến
Các thể loại thơ thời phong kiến

Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ cổ điển uy nghi, có nguồn gốc từ Trung Quốc, được hoàn thiện dưới thời nhà Đường và du nhập vào Việt Nam. Mỗi bài gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ, mang cấu trúc chặt chẽ và luật thơ nghiêm ngặt, thể hiện vẻ đẹp tráng lệ trong thi ca.

  • Thanh điệu: Tuân thủ quy luật “nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh”. Câu 1, 2, 4, 6, 8 luân phiên bằng trắc; câu 3, 5, 7 tự do về thanh điệu. Các câu theo hàng dọc phải niêm với nhau (cùng thanh).
  • Gieo vần: Các câu 1, 2, 4, 6, 8 hiệp vần bằng nhau. Có thể dùng độc vận (một vần) hoặc liên vận (nhiều vần).
  • Ví dụ:

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà, mỏi miệng cái da da.

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

(Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Kết luận 

Hiểu biết về các thể loại thơ Việt Nam không chỉ giúp ta thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp của thơ ca mà còn giúp ta hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn, tình cảm và đời sống của người Việt qua các thời kỳ lịch sử. Hy vọng rằng bài viết này đã mang đến cho bạn những kiến thức bổ ích và khơi gợi niềm đam mê khám phá vẻ đẹp bất tận của thơ ca Việt Nam. Hãy tiếp tục hành trình khám phá của mình, và đừng quên theo dõi website của chúng tôi thường xuyên để cập nhật thêm nhiều kiến thức bổ ích về thế giới Văn học Việt Nam.

Tin mới cập nhật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.